Phân Tích Kỹ Thuật Chứng Khoán Phần 2

Phân Tích Kỹ Thuật Chứng Khoán Phần 2

Trong tài chính, phân tích kỹ thuật là một phương pháp phân tích chứng khoán dự báo hướng của giá cả thông qua việc nghiên cứu các dữ liệu thị trường quá khứ, chủ yếu là giá cả và khối lượng. Kinh tế học hành vi và phân tích định lượng sử dụng rất nhiều các công cụ tương tự của phân tích kỹ thuật là một khía cạnh của quản lý tích cực, đứng trong mâu thuẫn với nhiều lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại. Hiệu quả của cả phân tích kỹ thuật và phân tích cơ bản còn gây tranh cãi bởi Giả thuyết thị trường hiệu quả nói rằng giá cả thị trường chứng khoán về cơ bản là không thể đoán trước.

Mô tả tổng quát

Các nhà phân tích cơ bản kiểm tra thu nhập, cổ tức, sản phẩm mới, nghiên cứu mới và các thứ tương tự. Các nhà phân tích kỹ thuật sử dụng nhiều phương pháp, công cụ và kỹ thuật, một trong số đó là việc sử dụng các biểu đồ. Sử dụng biểu đồ, các nhà phân tích kỹ thuật tìm kiếm để xác định các mẫu hình giá cả và các xu hướng thị trường trong thị trường tài chính và cố gắng khai thác những hình mẫu này.

Các nhà phân tích kỹ thuật sử dụng các biểu đồ để tìm kiếm các mẫu hình biểu đồ giá cả nguyên mẫu, chẳng hạn các mẫu hình đảo ngược [xu hướng] như đầu và vai hay đỉnh/đáy kép nổi tiếng, nghiên cứu các chỉ báo kỹ thuật, trung bình động, và tìm kiếm các hình thức như ngưỡng hỗ trợ, ngưỡng kháng cự, các kênh, và nhiều mẫu hình mơ hồ hơn như cờ, cờ hiệu, các mẫu hình ngày cân bằng và cốc và quai.

Các nhà phân tích kỹ thuật cũng sử dụng rộng rãi nhiều loại chỉ báo thị trường, một vài trong số đó là các biến đổi toán học của giá cả, thường bao gồm cả khối lượng lên xuống, dữ liệu tăng/giảm và các đầu vào khác. Những chỉ số này được sử dụng để giúp đánh giá liệu một tài sản có đang trong xu hướng không, và nếu nó là trong xu hướng, khả năng về hướng và sự tiếp diễn của nó là như thế nào. Nhà phân tích kỹ thuật cũng tìm kiếm các mối quan hệ giữa các chỉ số giá/khối lượng và các chỉ báo thị trường. Ví dụ như RSI và MACD. Các con đường nghiên cứu khác bao gồm các mối tương quan giữa các thay đổi trong các Quyền chọn (biến động mặc nhiên) và tỷ lệ đặt/gọi với giá. Cũng quan trọng là các chỉ báo cảm tính như tỷ lệ Đặt/Gọi, tỷ lệ bò/gấu, tỷ suất bán khống, biến động mặc nhiên v.v.

Có nhiều kỹ thuật trong phân tích kỹ thuật. Các tín đồ của các kỹ thuật khác nhau (ví dụ: phân tích biểu đồ nến, Lý thuyết Dow và lý thuyết sóng Elliott) có thể bỏ qua các phương pháp tiếp cận khác, nhưng nhiều thương nhân kết hợp các yếu tố từ nhiều kỹ thuật. Một số nhà phân tích kỹ thuật sử dụng đánh giá chủ quan để quyết định (những) mẫu hình mà một công cụ cụ thể phản ánh tại một thời điểm nhất định và diễn giải của mẫu hình đó sẽ là gì. Những người khác sử dụng cách tiếp cận hệ thống hoặc hoàn toàn máy móc để nhận dạng và diễn giải mẫu hình.

Phân tích kỹ thuật thường xuyên trái ngược với phân tích cơ bản, là nghiên cứu về các yếu tố kinh tế ảnh hưởng đến cách thức các nhà đầu tư đánh giá các thị trường tài chính. Phân tích kỹ thuật cho rằng giá cả đã phản ánh tất cả các xu hướng như vậy trước khi các nhà đầu tư nhận thức về chúng. Việc khám phá những xu hướng này là những gì các chỉ báo kỹ thuật được thiết kế để làm, không hoàn hảo như chúng có thể. Hoàn toàn tự nhiên, các chỉ báo cơ bản cũng chịu các hạn chế tương tự. Một số thương nhân chỉ sử dụng phân tích kỹ thuật hoặc phân tích cơ bản, trong khi những người khác sử dụng cả hai loại để đưa ra các quyết định mua bán.

Theo Bách Khoa Toàn Thư Mở Wikipedia

Leave a Comment