VCB thoái vốn khỏi SaigonBank (SGB) và Công ty tài chính xi măng (CFC) đem về khoản lãi 148,2 tỷ đồng.

VCB thoái vốn khỏi SaigonBank (SGB) và Công ty tài chính xi măng (CFC) đem về khoản lãi 148,2 tỷ đồng.

Tin doanh nghiệp – VCB thoái vốn khỏi SaigonBank (SGB) và Công ty tài chính xi măng (CFC) đem về khoản lãi 148,2 tỷ đồng. Phiên đấu giá đã diễn ra thành công trên HNX vào sáng nay – cụ thể:

• SGB – Tổng lượng cổ phiếu chào bán là 13,25 triệu đơn vị, tương đương 4,3% cổ phần SGB với giá khởi điểm là 12.550đ. Có tổng cộng 20 NĐT tham gia (1 NĐT tổ chức và 19 NĐT cá nhân). Tổng lượng cổ phiếu đăng ký mua là 53,8 triệu đơn vị; cao gấp hơn 4 lần lượng cổ phiếu chào bán. Giá đấu thành công là 20.100đ; cao hơn 60% giá khởi điểm và bằng 1,745 lần BVPS của cổ phiếu SGB tính tại thời điểm cuối Q3/2017 (là mức cao bất ngờ đối với một NHTM nhỏ như SGB). Giá vốn cổ phiếu SGB của VCB là 9.316đ (tại thời điểm cuối năm 2016) nên lãi từ thoái vốn SGB của VCB là 142,9 tỷ đồng.

• CFC – Tổng lượng cổ phiếu chào bán là 6,6 triệu đơn vị, tương đương 10,91% cổ phần CFC với giá khởi điểm là 11.549đ. Có tổng cộng 9 NĐT tham gia với tổng lượng cổ phiếu đăng ký mua là 6,671 triệu đơn vị. Giá đấu thành công nằm trong khoảng 11.500-11.560đ với giá đấu thành công bình quân là 11.554đ; xấp xỉ giá khởi điểm. Giá vốn cổ phiếu CFC của VCB là 10.750đ (tại thời điểm cuối năm 2016) nên lãi từ thoái vốn CFC của VCB là 5,3 tỷ đồng.

Sau khi thoái vốn SGB và CFC, VCB sẽ tiếp tục thoái vốn khỏi OCB (theo kế hoạch là trong năm 2017), MBB và EIB (theo kế hoạch là tháng 1 năm 2018). Như chúng tôi đã đề cập gần đây, lãi từ thoái vốn khỏi 5 TCTD sẽ đóng góp đáng kể vào lợi nhuận của VCB, lên tới 2.450 tỷ đồng. Với phần nhỏ hơn, khoảng 250 tỷ đồng nhiều khả năng sẽ được hạch toán vào năm 2017; giúp LNTT của VCB có thể cao hơn 2,3% so với dự báo của chúng tôi. Còn phần lớn, khoảng 2.200 tỷ đồng sẽ giúp LNTT năm 2018 tăng thêm 16,9% so với dự báo của chúng tôi.

Cho năm 2017, HSC dự báo LNTT tăng trưởng 28% – đạt 10.912,7 tỷ đồng (chưa tính khoản lãi thoái vốn ước tính là 250 tỷ đồng như đề cập trên đây). Dự báo của chúng tôi dựa trên các giả định sau:

1. Tín dụng tăng trưởng 19% đạt 548.362 tỷ đồng và huy động tăng trưởng 18% đạt 696.733 tỷ đồng.

2. Tỷ lệ NIM tăng ổn định ở 2,78% nhờ cho vay bán lẻ tăng trưởng mạnh 40-50% bù đắp cho chi phí huy động tăng. Thu nhập lãi thuần tăng trưởng 20% đạt 22.247 tỷ đồng.

3. Thu nhập ngoài lãi tăng trưởng 11,2% đạt 7.062,4 tỷ đồng với dự báo lãi thuần hoạt động dịch vụ tăng trưởng mạnh 18,8%. Tuy nhiên trên quan điểm thận trọng chúng tôi dự báo lãi thuần từ hoạt động kinh doanh ngoại hối chỉ tăng trưởng 5% và các thu nhập khác không tăng (hoặc tăng giảm bù trừ lẫn nhau).

4. Chúng tôi dự báo chi phí hoạt động tăng 24,5% lên 12.385 tỷ đồng.

5. Chúng tôi dự báo chi phí dự phòng là 6.012 tỷ đồng (giảm 6,2%) nhờ chất lượng cho vay được cải thiện và không còn gánh nặng trích lập dự phòng đối với trái phiếu VAMC trong năm 2017

Theo đó chúng tôi dự báo LNTT sẽ tăng trưởng 28% và đạt 10.912,7 tỷ đồng. EPS là 1.946đ (sau khi pha loãng). BVPS là 15.339đ. Theo đó P/B dự phóng là 2,93 lần với giả định VCB hoàn tất việc phát hành riêng lẻ 10% trong năm 2017.

Cho năm 2018, HSC dự báo LNTT tăng trưởng 19,5% – đạt 13.039 tỷ đồng, chưa kể khoản lãi ước tính là 2.200 tỷ đồng đề cập trên đây. Dự báo của chúng tôi dựa trên các giả định sau:

Tín dụng tăng trưởng 18% đạt 647.067 tỷ đồng và huy động tăng trưởng 16% đạt 808.210 tỷ đồng.
Tỷ lệ NIM tăng nhẹ 0,04% lên 2,82%. Thu nhập lãi thuần tăng trưởng 15,3% và đạt 25.656 tỷ đồng.
Thu nhập ngoài lãi tăng trưởng 18,8% và đạt 8.362 tỷ đồng.
Chúng tôi dự báo chi phí hoạt động tăng 20,7% lên 14.952 tỷ đồng.
Dự báo chi phí dự phòng gần như không đổi ở 6.026 tỷ đồng.

Theo đó chúng tôi dự báo LNTT sẽ tăng trưởng 19,5% đạt 13.039 tỷ đồng. EPS là 2.167đ. BVPS là 16.571đ, theo đó P/B dự phóng là 2,72 lần.

Quan điểm đầu tư – Tiếp tục duy trì đánh giá Khả quan. Chúng tôi ước tính giá trị hợp lý trong ngắn hạn của cổ phiếu VCB là 44.500đ, tương đương P/B dự phóng năm 2017 là 2,9 lần; giá trị hợp lý trong trung hạn là 48.000đ; tương đương P/B dự phóng năm 2018 là 2,9 lần. KQKD khả quan củng cố quan điểm của chúng tôi rằng năm nay tiếp tục là một năm tích cực đối VCB. Nhờ tăng trưởng ổn định và chi phí dự phòng giảm. HSC dự báo LNTT từ hoạt động kinh doanh chính năm 2017 đạt 10.912,7 tỷ đồng (tăng trưởng 28%) và 2018 đạt 13.039 tỷ đồng. Cho vay bán lẻ tăng trưởng mạnh nhờ tình hình tài chính tốt hiện là động lực chính cho tăng trưởng của Ngân hàng và dự báo mảng này sẽ tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng của Ngân hàng trong vài năm tới. Khả năng hạch toán lợi nhuận không thường xuyên từ bán một phần hoặc toàn bộ cổ phần tại 5 TCTD trong năm nay và năm sau sẽ giúp LNTT tăng trưởng mạnh hơn. Đặc biệt là năm 2018.

Tin ngành ngân hàng – Tỷ lệ nợ xấu toàn ngành ngân hàng đã giảm xuống 8,61% vào cuối Q3/2017 từ 10,06% vào cuối năm 2016 – Tương đương giá trị nợ xấu đến cuối tháng 9/2017 là 566 nghìn tỷ đồng so với 600 nghìn tỷ đồng vào cuối năm 2016 theo phát biểu của Thống đốc NHNN trong phiên họp Quốc hội gần đây. Tỷ lệ nợ xấu giảm là do:

(1) Cơ sở so sánh lớn hơn – Tổng tín dụng tăng với tăng trưởng tín dụng trong 9 tháng đầu năm đạt 12,16%. Từ 5.861 nghìn tỷ đồng vào cuối năm 2016 lên 6.573 nghìn tỷ đồng.

(2) Giá trị nợ xấu cũng giảm – Giá trị nợ xấu giảm 34 nghìn tỷ đồng nhờ đẩy mạnh thanh lý và xử lý nhờ lợi nhuận toàn ngành trong năm nay đã được cải thiện cộng với áp lực từ chính phủ yêu cầu xử lý vấn đề nợ xấu triệt để và toàn diện.

Kết luận nhanh. Số liệu của NHNN có vẻ là thống kê toàn bộ nợ xấu hiện tại trên cả hệ thống thay vì chỉ bao gồm nợ xấu đã báo cáo và trái phiếu VAMC chưa được trích lập dự phòng. Con số báo cáo này có lẽ cũng bao gồm cả các khoản nợ xấu tiềm ẩn. Nhìn chung nợ xấu hiện tập trung phần lớn ở 7 hoặc 8 ngân hàng, trong đó ngoài Agribank và STB, phần lớn là các tổ chức tín dụng nhỏ hơn. Và do phần lớn nợ xấu còn lại đều được đảm bảo bởi các tài sản BĐS, tỷ lệ thu hồi nợ được kỳ vọng sẽ đạt mức cao khi các tài sản đảm bảo được thanh lý. Do đó, nhìn chung đây là thông tin tích cực liên quan tới việc cập nhật tiến độ xử lý nợ xấu. Trước hết, thông tin minh bạch hơn và thứ hai là có vẻ như quá trình xử lý nợ xấu đang dần tiến triển tốt, với dự kiến vấn đề nợ xấu ở rất nhiều ngân hàng sẽ được xử lý phần lớn trong năm 2018-2019. Nhờ vậy sẽ có sự phục hồi mạnh mẽ trong lợi nhuận của các ngân hàng như VCB và ACB, là những ngân hàng đã trích lập dự phòng phần lớn nợ xấu của mình đồng thời cũng ghi nhận lợi nhuận không thường xuyên từ bán nợ xấu.

Chúng tôi ước tính cơ cấu nợ xấu như sau;

(1) Tỷ lệ nợ xấu được các ngân hàng báo cáo là 2,34%, tương đương 153,82 nghìn tỷ đồng theo thông báo chính thức của NHNN vào cuối tháng 9 năm 2017.

(2) Mệnh giá trái phiếu VAMC hiện tại tương đương 4,05% tổng tín dụng. Chúng tôi không có số liệu chính thức mới nhất về mệnh giá trái phiếu VAMC các ngân hàng đang nắm giữ tính đến cuối tháng 9/2017. Tuy nhiên, theo thông tin truyền thông về cuộc gặp gần đây nhất với VAMC, mệnh giá trái phiếu VAMC tính hết tháng 8/2017 là 266,33 nghìn tỷ đồng.

(3) Do đó, 2,22% giá trị nợ xấu còn lại có thể là nợ xấu tiềm ẩm hay nợ tái cấu trúc (tương đương 137 nghìn tỷ đồng nợ xấu).

Theo ước tính của HSC, hiện vẫn còn khoảng 400 nghìn tỷ đồng nợ xấu chưa xử lý, tương đương 6,1% tổng dư nợ tại thời điểm cuối Q3. Ước tính của chúng tôi dựa trên:

(1) So sánh nợ xấu theo báo cáo của NHTM với hệ số LLR bình quân toàn ngành ngân hàng (không tính 3 ngân hàng 0 đồng) tại thời điểm cuối năm 2016 là 70,7%. Nếu giả định tỷ lệ này trong 9 tháng đầu năm 2017 vẫn như trên thì còn 30% nợ xấu chưa được trích lập dự phòng, tương đương 46 nghìn tỷ đồng nợ xấu.

(2) Nếu nhìn vào số dư trái phiếu VAMC, chúng tôi ước tính dự phòng lũy kế trích lập cho trái phiếu VAMC tại thời điểm cuối năm 2016 là 37 nghìn tỷ đồng; đến cuối tháng 9/2017 là 50 nghìn tỷ đồng. Theo đó phần trái phiếu VAMC còn chưa trích lập dự phòng là 216 nghìn tỷ đồng.

(3) Nếu trừ 2 phần trên ra khỏi số tổng, thì phần nợ xấu còn lại là 137 nghìn tỷ đồng. Chúng tôi cho rằng đây có lẽ là nợ xấu tiềm ẩn chưa được thể hiện trong nợ xấu cho vay khách hàng và trái phiếu VAMC được NHTM công bố. Có lẽ đây là số nợ tái cấu trúc ước tính được hạch toán một cách đặc biệt hoặc liên quan đến cho vay DNNN. Có thể là giả định dự phòng lũy kế cho các khoản nợ xấu tiềm ẩn cho đến nay là chưa nhiều.

Chi phí xử lý nợ xấu thực tế cuối cùng sẽ tùy thuộc vào giá trị thị trường của tài sản đảm bảo – nhưng sẽ thấp hơn nhiều con số nợ xấu tuyệt đối chưa được trích lập dự phòng. Do nợ xấu chưa được trích lập dự phòng chưa trừ giá trị tài sản đảm bảo hay phần nợ có khả năng thu hồi được trong tương lai. Nếu nhìn vào số liệu quá khứ thì tỷ lệ này thường là 30-40%. Có nghĩa là số nợ không thu hồi được trong số nợ xấu chưa được trích lập dự phòng của toàn ngành là khoảng 240-280 nghìn tỷ đồng. Tương đương khoảng 600%-700% tổng lợi nhuận toàn ngành ngân hàng năm 2016 (40 nghìn tỷ đồng LNST).

Gánh nặng nợ xấu ở mỗi NHTM là khác nhau – Nhiều NHTM lớn đã hầu như trích lập hết cho nợ xấu từ trước để lại và hiện có tình hình tài chính lành mạnh, sẵn sàng cho việc tăng trưởng mạnh vài năm tới. Có thể kể đến những ngân hàng như VCB, MBB; HDBank & ACB. Trong khi đó các NHTM niêm yết khác vẫn còn phải tiếp tục trích lập dự phòng là VPB, BID, CTG.

Trái lại có những ngân hàng vẫn còn rất nhiều nợ xấu từ trước để lại phải trích lập. Chẳng hạn như trong số các NHTM có vốn nhà nước có Agribank còn NHTMCP hay NHTM 0 đồng có STB, EIB; SCB, OJB, VNCB và GPB. Cho dù vậy do phần lớn nợ xấu từ trước để lại là cho vay dự án BĐS nên tỷ lệ thu hồi nợ xấu có thể còn cao hơn nhiều mức thông thường là 30-40%. Đặc biệt là khi giá trên thị trường BĐS đang tăng. Và chúng tôi tin rằng Chỉ thị 42/2017/QH14 về xử lý nợ xấu trong ngành ngân hàng được Quốc hội thông qua vào ngày 21/6/2017 sẽ giúp hỗ trợ giải quyết vấn đề.

Theo: HSC Research Report

THANK YOU FOR VISITING

Leave a Comment